Tựa đề “Ân điển của Đức Chúa Trời cho Ô-nê-sim, một người nô lệ phạm tội trọng” qua thơ Phi-lê-môn.


Ô-nê-sim là một người nữa ít được biết đến trong Kinh thánh. Ông được nhắc đến trong một lá thơ ngắn của Phao-lô gửi cho Phi-lê-môn. Thơ Phi-lê-môn là một sách rất ngắn chỉ có 25 câu. Hôm nay, xin mời quí vị cùng nghe câu chuyện của Ô-nê-sim và nếu có Kinh thánh thì xin quí vị mở ra thơ Phi-lê-môn (trang 228) để dễ theo dõi.
 
Chúng ta ít nghe đến thơ Phi-lê-môn vì Phao-lô không viết về Tin lành của Chúa Jesus hay những sự dạy dỗ về thần học như các sách khác của ông. Thơ Phi-lê-môn là một lá thơ đầy chân tình mà Phao-lo gởi cho một người anh em trong Chúa tên Phi-lê-môn ở thành Cô-lô-se về một người nô lệ tên Ô-nê-sim. 
 
Chúng tôi xin đọc thơ Phi-lê-môn từ câu 4 đến câu 21… 
 
Trong câu chuyện này, ba nhân vật chính là sứ đồ Phao-lô, một người tín hữu tên là Phi-lê-môn và một người nô lệ tên Ô-nê-sim. Thời điểm là dưới quyền cai trị của đế quốc La Mã, khi chế độ nô lệ rất phổ biến và được luật pháp công nhận. Xã hội phân tầng lớp rõ  rệt, và những người nô lệ không có quyền công dân. 
 
Sứ đồ Phao-lô thì chúng ta đều biết khá nhiều. Phi-lê-môn là một người tin Chúa trong thành Cô-lô-se, có thể là khá giả hay giàu có, vì có nuôi nô lệ. Phi-lê-môn cũng có chịu ơn của Phao-lô (câu 19). Còn Ô-nê-sim là một người nô lệ của Phi-lê-môn. Tên Ô-nê-sim có nghĩa là “hữu ích” hay “có lợi” trong tiếng Hy Lạp và là một tên hay được đặt cho những người nô lệ. Trong câu chuyện này, Ô-nê-sim đã bỏ trốn khỏi nhà của Phi lê môn, có thể là vì không sống nổi. Và khi trốn đi, có thể đã trộm cắp những đồ vật có giá trị trong nhà của Phi-lê-môn (câu 18). 
 

Sau đó, Ô-nê-sim gặp Phao-lô khi ông đang bị giam lỏng ở nhà, trong thành Rô-ma, khoảng năm 60 sau công nguyên. Qua cuộc gặp gỡ này Ô-nê-sim đã tin Chúa, được Phao-lô dẫn dắt và gọi là “con” trong đức tin (câu 10).

Phao-lô viết một lá thư ngắn gửi cho Phi-lê-môn, kêu gọi ông tha thứ và tiếp nhận Ô-nê-sim trở lại, không phải như một nô lệ mà như một “người anh em yêu dấu” trong Chúa (câu 16). Phao-lô cầu xin đức tin trong Chúa được hiệu nghiệm trong lòng của  Phi-lê-môn để xin sự tha thứ cho Ô-nê-sim (câu 6 và 7). Phao-lo nhấn mạnh sự tha thứ và tình yêu thương trong Chúa, cũng như đề nghị trả bất kỳ món nợ nào của Ô-nê-sim (câu 18–19). Phao-lo cũng bày tỏ hy vọng đến thăm Phi-lê-môn và cho biết Ô-nê-sim đã giúp ích cho mình, nhưng vẫn gửi anh ta về cho Phi-lê-môn để giải quyết vấn đề (câu 12–14).

Trong thơ Cô-lô-se 4:9, chúng ta thấy có thêm một chi tiết đó là Phao-lô gởi Ti-chi-cơ và Ô-nê-sim mang theo thư của Phao-lô gửi cho hội thánh ở Cô-lô-se. Trong thơ Co-lo-se, Phao-lo gọi Ô-nê-sim là “người anh em trung tín và rất yêu dấu của chúng tôi”. Điều này cho thấy Ô-nê-sim được Phao-lô tin cậy và thương mến trong vòng những người tin Chúa lúc ban đầu. 

Trong câu chuyện này, chúng ta thấy Ô-nê-sim phải quyết định có nên về gặp người chủ cũ của mình là Phi-lê-môn hay không. Đi về thì có thể bị hình phạt, nếu không được Phi-lê-môn tha thứ và chấp nhận. Theo luật lệ thời đó thì Ô-nê-sim đã phạm hai tội trọng là – bỏ trốn và ăn cắp. Sau khi suy nghĩ đắn đo, cùng với sự khuyến khích của Phao-lô và đức tin mới vào Chúa Jesus, Ô-nê-sim đã quyết định trở về, ăn năn và xin tha thứ.

Theo luật lệ La-mã trong thời đó, một người nô lệ bỏ trốn có thể bị một trong những hình phạt sau đây từ nhẹ đến nặng: bị đóng dấu trên trán, bị đánh đòn, bị ở tù, bị đày đi làm việc nặng nhọc và đầy nguy hiểm ở trong những hầm mỏ, bị chặt bàn chân để không thể bỏ trốn nữa, và cuối cùng có thể bị xử tử trên cây thập tự.  

Một người nô lệ ăn cắp thì có thể bị một trong những hình phạt sau đây: bị đeo một cái ách trên cổ, bị đánh đón, bị đày đi làm việc nặng nhọc, bị bán cho những đấu trường, và cao nhất là bị xử tử.  Ô-nê-sim đã phạm đến 2 tội cho nên ông phải nghe lời Phao-lo, tin Phao-lo và có đức tin nơi Chúa rất lớn, nên mới dám trở về gặp ông chủ mình.

Về phần Phi-lê-môn thì cũng có một quyết định không nhỏ đó là có nên tha thứ cho Ô-nê-sim hay không vì Ô-nê-sim đã bỏ trốn và còn lấy cắp những đồ vật có giá trị trong nhà. Sau khi suy nghĩ đắn đo, cùng những lời nói chân thành của Phao-lô và sự tha thứ trong Chúa Jesus, Phi-lê-môn đã chấp nhận Ô-nê-sim trở lại như là một người anh em. Cám ơn Chúa. Chúa muốn chúng ta tha thứ người khác nếu muốn Chúa tha thứ cho mình. Tuy nhiên, biết là một chuyện, làm được hay không là một chuyện khác. Chúng tôi biết trong một gia đình tin Chúa kia. Các ACE nghịch nhau sau khi người mẹ qua đời. Họ chia làm 2 phe và không những họ không tha thứ nhau, mà còn nhờ luật pháp ra lệnh ngăn cách, cấm không cho hai bên đến gần nhau. Chuyện này đã xảy ra hơn 3 năm rồi, không biết bao giờ mới có sự tha thứ. Và  chúng tôi tiếp tục cầu nguyện cho gia đình này. 

Với Phi-lê-môn và Ô-nê-sim, chúng ta hình dung được một bức tranh hết sức đẹp, một bên trở về chịu tội, ăn năn, còn một bên thì tha thứ, chấp nhận. Một câu chuyện hết sức cảm động giữa hai người, chủ và nô lệ mà bây giờ trở nên hai anh em trong Chúa, không còn phân biệt giai cấp mà chỉ có yêu thương, tha thứ và bình đẳng. Chỉ có Chúa mới có thể làm những việc phi thường và thay đổi lòng người. Ngài đến thế gian để đón nhận những con người tội lỗi, để xóa bỏ hận thù, ranh giới, và rào cản để con người có thể sống trong tình yêu thương và kinh nghiệm được tình yêu thương vô điều kiện của Ngài. 

Mặc dù Ô-nê-sim chỉ xuất hiện trong hai đoạn ngắn trong Kinh thánh là thơ Phi-lê-môn và thơ Co-lô-se, câu chuyện của ông mang những ý nghĩa quan trọng như sau:

Thơ Phi-lê-môn thể hiện các chủ đề về sự tha thứ, ân điển, sự phục hồi, sự bình đẳng trong Chúa, và đức tin phải có sự biến đổi, khi Phao-lô kêu gọi đối xử với Ô-nê-sim như anh em yêu dấu thay vì là một nô lệ mắc tội trọng.

Qua thơ này, Tin lành của Chúa Jesus kêu gọi xã hội thời bấy giờ tạo một mối quan hệ mới dựa trên tình yêu thương và tha thứ. Đó là chấp nhận một người nô lệ có tội như là một người anh em yêu dấu. Điều này hết sức khó nhưng Phao-lô mạnh dạn yêu cầu và trong Chúa, Phi lê môn đã chấp nhận và thi hành.

Câu chuyện của Ô-nê-sim làm sáng tỏ ảnh hưởng của đạo Tin lành của Chúa Jesus đến xã hội và quan hệ cá nhân trong hội thánh đầu tiên, trong bối cảnh xã hội La Mã hà khắc qua những điểm sau đây.

1. Từ một người nô lệ phạm tội trọng, Ô-nê-sim trở thành một người tín hữu rất ích lợi (câu 11).
2. Ân điển và sự biến đổi trong Đức Chúa Trời: Phao-lô không chỉ giúp Ô-nê-sim trở lại với người chủ cũ, mà còn khuyến khích Phi-lê-môn tiếp nhận ông như một người anh em yêu dấu trong Chúa (câu 16).
3. Hình ảnh của sự tha thứ và hòa giải được bày tỏ rõ ràng qua câu chuyện của Ô-nê-sim. Và cho chúng ta thấy trong Chúa, mọi người đều bình đẳng và có giá trị rất cao dưới mắt Ngài. 

Một điểm đặc biệt về sứ đồ Phao-lo mà chúng ta nhận thấy trong thơ Phi-lê-môn. Đó là sự khiêm nhường đến điều của Phao-lo, dù ông là một sứ đồ, trong câu 8 đến câu 12, “Vậy nên, dù trong đấng Christ, tôi có quyền truyền dạy anh việc nên làm, song vì lòng yêu thương của anh, nên tôi này xin thì hơn. Tôi, Phao lô, đã già rồi hiện nay lại vì Đức Chúa Jesus chịu tù nữa, tôi vì con tôi đã sinh trong vòng xiềng xích, tức là Ô-nê-sim, mà này xin anh, ngày trước người không có ích gì cho anh, nhưng bây giờ sẽ ích lắm và cũng ích cho tôi nữa, tôi sai người về cùng anh, người như lòng dạ tôi vậy.”
 
Chúng ta biết “kiêu ngạo” là điều Chúa ghét nhất và là tội lỗi số 1. Kinh thánh kêu gọi chúng ta phải khiêm nhường, coi người khác như tôn trọng hơn mình. Trong sự hy sinh và khiêm nhường, Chúa Jesus đã làm gương trước, một sự hạ mình vô cùng lớn lao. Từ địa vị là thượng đế ngôi hai, đấng tạo hóa ra muôn loài, thánh khiết, vinh hiền và đầy uy quyền, là thượng đế toàn năng, toàn tri, ở khắp mọi nơi và cai quản tất cả mọi việc, Ngài đã bỏ hết để xuống thế gian, sanh ra trong một gia đình nghèo, lớn lên làm một người thợ mộc, không có tài sản nhà cửa và sau đó phải chết trên thập tự giá. Thượng đế ngôi hai, đấng vô tội đã chịu chết cho chúng ta là những tội nhân ghê tởm, gớm ghiếc. 
 
Chúng ta hãy nghe sứ đồ Phao-lô nói về Chúa Jesus như sau trong sách Philip 2:5-8, “Hãy có đồng một tâm tình như đấng Christ đã có, Ngài vốn có hình Đức Chúa Trời, chẳng coi sự bình đẳng mình với Đức Chúa Trời là sự nên nắm giữ, chính Ngài đã từ bỏ mình đi, lấy hình tôi tớ và trở nên giống như loài người, Ngài đã hiện ra như một người, tự hạ mình xuống, vâng phục cho đến chết, thậm chí trên cây thập tự”.
 
Sứ đồ Phao lô cũng đã làm gương về sự khiêm nhường. Ông bỏ hết danh tiếng, học vấn và địa vị là những điều con người tìm kiếm. Phao-lo thấu hiểu sự yếu đuối của mình và hoàn cảnh khốn cùng của con người, cho nên ông quyết tâm theo Chúa Jesus, rao giảng Tin lành, đã bị đánh đòn và ở tù. Phao-lo kêu gọi chúng ta bắt chước ông cũng như ông đã bắt chước Chúa Jesus (1 Cor 11:1).
 
Khi chúng tôi hỏi AI về sự khiêm nhường của Phao-lo thì thấy có 4 chỗ khác trong Kinh thánh như sau:

1. Phao-lô nhắc đến sự hiền lành của Đấng Christ trong thơ II Cô-rinh-tô 10:1

“Tôi là Phao-lô, bởi sự nhu mì, nhân từ của đấng Christ mà xin anh em, – tôi là người hèn hạ lắm trong khi khi gặp mặt giữa anh em, nhưng lúc vắng mặt, đối với anh em, tỏ ra biết bao là dạn dĩ!”
  • Phao-lô không dựa vào uy quyền, mà dùng sự nhu mì và nhân từ của Đấng Christ làm nền tảng để nói chuyện với những người tin Chúa.
  • Ông thừa nhận sự yếu đuối của mình khi đối diện và sự can đảm, mạnh dạn khi viết thư – điều này cho thấy tấm lòng thành thật và khiêm tốn.

2. Phao-lo như người mẹ chăm con, trong thơ I Tê-sa-lô-ni-ca 2:6–8

“Dẫu rằng chúng tôi có thể bắt anh em tôn trọng chúng tôi, vì là sứ đồ của đấng Christ, song cũng chẳng cầu vinh hiển đến từ loài người, hoặc từ nơi anh em, hoặc từ nơi kẻ khác. Nhưng chúng tôi đã ăn ở nhu mì giữa anh em, như một người vú săn sóc chính con mình cách dịu dàng vậy. Vậy, vì lòng rất yêu thương của chúng tôi đối với anh em, nên ước ao ban cho anh em, không những Tin lành Đức Chúa Trời thôi đâu, song cả đến chính sự sống chúng tôi nữa, bởi anh em đã trở nên thiết nghĩa với chúng tôi là bao.”
  • Dù là sứ đồ, Phao-lô không dùng uy quyền mà dịu dàng như một người mẹ hiền.
  • Cách dùng hình ảnh mẹ chăm con cho chúng ta thấy tấm lòng đầy tình cảm, ân cần, hy sinh của Phao-lo.

3. Phao-lo xưng mình là kẻ hèn mọn trong thơ I Cô-rinh-tô 15:9

“Vì tôi là rất hèn mọn trong các sứ đồ, không đáng gọi là sứ đồ, vì tôi đã bắt bớ Hội Thánh của Đức Chúa Trời.”

  • Dù được Chúa dùng cách lớn lao, ông vẫn khiêm nhường xưng mình là người kém nhất.
  • Ông không quên quá khứ sai lầm, và từ đó ông sống với tấm lòng phục vụ, không lên  mình, không kiêu ngạo.

4. Phao-lo thừa nhận sự yếu đuối của mình để tôn vinh ân điển của Chúa trong thơ II Cô-rinh-tô 12:7–9

“ Vậy nên, e rằng tôi lên mình kiêu ngạo bởi sự cao trọng cả thể của những sự tỏ ra ấy chăng, thì đã cho một cái dầm xóc vào thịt tôi, tức là quỷ sứ của Sa tan, để vả tôi, và làm cho tôi đừng kiêu ngạo. Đã ba lần tôi cầu nguyện Chúa cho nó lìa xa tôi. Nhưng Chúa phán rằng: ân điển ta đủ cho ngươi rồi, vì sức mạnh của ta nên trọn vẹn trong sự yếu đuối. Vậy tôi sẽ rất vui lòng khoe mình về sự yếu đuối tôi, hầu cho sức mạnh của đấng Christ ở trong tôi”
  • Phao-lô không tự hào về thành tích, mà khoe sự yếu đuối để tôn vinh ân điển của Chúa.
  • Điều này cho thấy tinh thần khiêm nhường và đầu phục Chúa hoàn toàn nơi ông.
Để kết thúc câu chuyện ngày hôm nay, và để áp dụng trong đời sống trên thực tế mỗi ngày, chúng ta có thể làm những gì để chứng tỏ mình tôn trọng người khác? Chúng tôi xin đề nghị 3 điều. 
 
1. Nên trả lời email, text nhắn tin hay điện thoại càng sớm càng tốt, trong vòng 24 tiếng đồng hồ là tốt nhất. Nếu chúng ta để người khác phải đợi nhiều ngày, nhất là trong thời đại “mì ăn liền” này, thì người kia có thể nghĩ là họ không quan trọng để mình trả lời ngay và do đó, sẽ nghĩ là mình coi thường họ.
 
2. Muốn làm một điều gì, nhất là những sự thay đổi, thì chúng ta nên trình bày cho người khác biết để bày tỏ sự tôn trọng lẫn nhau và cũng cần bàn thảo với nhau để có sự đồng ý, đưa đến một sự hợp tác cần có. Có một câu nói như vầy: “Muốn làm nhanh thì làm một mình, còn muốn làm lâu dài thì cần phải có sự hiệp một trong một nhóm người”. Câu này cũng dễ hiểu vì làm việc với một nhóm người sẽ có nhiều ý kiến khác nhau, đôi khi cũng có sự chống đối làm cho chúng ta thấy bực mình, đòi hỏi chúng ta phải nhịn nhục và kiên nhẫn. Sự hiệp một mà Kinh thánh nói đến và Chúa muốn chúng ta có, cũng là một kết quả của sự tôn trọng. Nếu hai bên có sự tôn trọng lẫn nhau thì mọi việc sẽ dễ dàng trôi chảy. Nếu một bên không có sự tôn trọng thì khó có sự hiệp một và dễ đưa đến sự bất hòa. Chúng ta cũng nên nhớ là rất khó để làm một sự thay đổi nào đó vì có nhiều lý do mà người ta không muốn thay đổi. Do đó, chúng ta phải cầu nguyện nhiều để Chúa đi trước, giúp đỡ chúng ta và cũng phải kiên nhẫn chờ đợi Chúa thay đổi người khác. 
 
3. Cách nói và giọng nói quan trọng hơn là điều muốn nói. Người ta nghe giọng nói và cách nói của mình là hiểu ngay mình có tôn trọng người ta hay không. Diễn tả một điều mình muốn nói, qua giọng nói ân cần, nhẹ nhàng và khiêm nhường như Phao-lô đã viết cho Phi-lê-môn thì người ta sẽ thấy được sự tôn trọng và muốn làm vừa lòng mình ngay. Chắc trong chúng ta, ai cũng đã từng nghe một người nói giọng cả với người khác. Nếu không có sự tôn trọng thì rất dễ thấy phật lòng và dễ không có sự hiệp một. 
 
Trong xã hội ngày nay, người ta thường nói đến IQ và EQ. IQ (intelligence quotient) là con số đo lường  sự thông minh còn EQ (emotional quotient) thì là con số đo lường sự khôn ngoan trong cách xử thế. Một người rất thông minh nhưng không biết cách xử thế thì cũng không có kết quả như một người khôn ngoan, được lòng của những người xung quanh. IQ và sự thông minh là do Chúa cho còn EQ và sự khôn ngoan xử thế thì con người có thể học, và bắt đầu là khiêm nhường và coi người khác tôn trọng hơn mình.
 
Xin mời chúng ta cùng cầu nguyện:
 
Kính lạy Chúa là Cha của chúng con ở trên trời. Cảm ơn Chúa đã cho chúng con một bài học về sự ăn năn, tha thứ, biến đổi, bình đẳng trong Ngài qua hai ông Phi-lê-môn và Ô-nê-sim. Tha thứ là một việc nói dễ nhưng làm khó. Và một bài học về sự khiêm nhường, khôn ngoan xử thế của sứ đồ Phao-lô. Cũng như tha thứ, khiêm nhường là một điều hết sức khó làm. Xin Chúa Thánh linh là đấng ở cùng chúng con, dạy dỗ và hướng dẫn chúng con mỗi ngày để sống thể hiện lòng thương xót, tha thứ, sự khiêm nhường và tình yêu thương yêu vô điều kiện của Ngài. Xin Chúa giúp đỡ khi chúng con thiếu đức tin và thương xót chúng con vì chúng con là những người có tội. Cảm ơn Chúa Jesus. Chúng con thành kính cầu nguyện nhân danh Chúa Jesus Christ. Amen.